Nam quan hành (1) (2) & (3) - Quốc Việt
 Cuộc Lữ Hành Trên Đất - Vũ Đức Tô Châu
 Cám ơn người (*) - Quốc Việt
 Mùa xuân qua đồng cỏ - Vũ Đức Tô Châu
 Nhớ Biên Giới Chiều Mưa - Quốc Việt
 Ca dao Ngụy văn Thà - Quốc Việt
 Bài Thơ Về Mẹ / Ngày Của Mẹ / Nhớ Mẹ Xiết Bao / Thức Giấc Nửa Khuya - Võ Đình Tiên
 Valentine day không có em - quang hy
 Đợi Hạt Phù Sa - Quốc Việt
 Hương Rơm - quang hy
 Hoàng Lan - quang hy
 Phố Cũ Trong Mưa - quang hy
 Liều - quang hy
 Đời Sợ Khổ - Nguyên Hữu
 Cali – Mưa Trên Ngày Tháng Cũ... - MH Hoài Linh Phương
 Tâm Khúc Tình Ta. - MH Hoài Linh Phương
 KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG - Viên Thức, huệ thu
 Chút hương hoa bên kia trời cũ. - MH Hoài Linh Phương
 Ở Một Nơi Không Có Mùa Xuân. - MH Hoài Linh Phương
 Lời Tình Ca Từ Nghìn Trùng Mang Mùa Thu Hội Ngộ - MH Hoài Linh Phương




quantho.net__________

Tác phẩm: 5634
Trang: 5818
Tác giả: 593


bài giới thiệu bài hành / bài ca bảy chữ liên hoàn biên khảo câu đối cổ thi trung hoa cổ thi việt nam Chùm Thơ chùm thơ 7 chữ 8 câu chùm thơ lục bát chùm thơ xướng họa dòng thơ đạo hát nói kịch thơ liên hoàn thất ngôn bát cú nhạc Phân Ưu song thất lục bát tác giả tác giả và tác phẩm Tùy bút tập thơ Tham luận thất ngôn bát cú (7 chữ 8 câu) thất ngôn bát cú thủ vỹ ngâm thể loại khác thi ca thi nhân thuận nghịch độc thơ 4 chữ thơ 5 chữ thơ 6 chữ thơ 7 chữ thơ 8 chữ thơ cho cha mẹ thơ chuyển thể thơ cuộc sống thơ dịch thơ hai câu thơ haiku thơ hình thơ họa thơ hiện thực thơ lục bát thơ mới thơ mới hiện đại Việt Nam thơ nối điêu thơ ngâm thơ nhạc thơ phá thể thơ quê hương thơ tân hình thức thơ tình thơ tình lục bát thơ tứ tuyệt thơ tự do thơ tranh đấu thơ trào phúng thơ truyện thơ xướng họa thơ đoản cú thơ đường thư / thơ tiểu luận tiểu sử Truyện ngắn trường ca trường thiên lục bát trường thiên song thất lục bát trường thiên thất ngôn viết về tác phẩm X.H. thơ vui cuối tuần You Tube Đường Thi Việt


Huệ Thu xin giới thiệu đến bạn đọc
Một Chuyến Bay Ðêm
Thể loại: thơ 8 chữ
Tác giả: phạm thành tính

Xin lưu ý: Là một Quán thơ, nên những bài thơ của các thi khách gửi đến hằng ngày, nếu nội dung không có ác ý và lời lẽ không làm tỗn thương ai , chúng tôi sẽ post lên trang của quantho.net trong tuần đó , tuy nhiên quantho.net không chịu trách nhiệm về nội dung của những bài thơ ấy , bài nào nếu quý khách thấy không chấp nhận được xin email cho ban biên tập biết rõ lý do , ban biên tập Văn tuyển chúng tôi luôn hoan nghinh những ý kiến xây dựng và đóng góp của quý vị. Những bài đã post lên những ngày tháng trước vẫn còn lưu lại, chúng tôi không xóa, quý vị có thể vào thư mục search tên tác giả và sẽ tìm thấy bài hay tác giả mà quý vị muốn tìm.

www.QuanTho.net


 

 

Nguyễn Bá Trác & khúc ca Hồ trường

» Tác giả: bùi thụy đào nguyên
» Dịch giả:
» Thể lọai: bài giới thiệu
» Số lần xem: 10959

1. Nguyễn Bá Trác & khúc ca Hồ trường

 


Nguyễn Bá Trác (1881-1945), bút hiệu Tiêu Đẩu, sinh năm Tân Tỵ (1881) tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. ......

Thuở nhỏ ông theo học ở Quảng Nam, năm 1906, thi đỗ Cử nhân ở Huế.
Hưởng ứng lời kêu gọi của các nhà ái quốc trong phong trào Đông Du, ông ra Hà Nội học tiếng Pháp và năm 1908, ông sang du học ở Nhật. Nhưng cũng ngay năm ấy, dưới sức ép của Pháp, chính phủ Nhật đã giải tán phong trào Đông Du, ông phải sang Trung Quốc rồi trở về Hà Nội (Việt Nam) năm 1914, làm ở Phòng báo chí Phủ Toàn quyền Đông Dương và Chủ bút phần Hán văn tờ Cộng Thị cho đến năm 1916.

Năm 1917, dưới sự bảo trợ của Louis Marty, Phạm Quỳnh sáng lập Nam Phong tạp chí, ông nhận làm Chủ bút phần Hán văn. Sau, thôi làm ở báo Nam Phong, ông vào Huế làm Tá lý Bộ Học và lần lượt trải qua các chức vụ: Tuần phủ Quảng Ngãi, Tổng đốc Thanh Hóa, Tổng đốc Bình Định.

Tháng 8 năm 1945, Việt Minh lên nắm chính quyền, ông bị xử bắn công khai tại Quy Nhơn (Bình Định).

Ngoài nhiều bài viết trên tờ Nam Phong từ năm 1917 cho đến năm 1932, Nguyễn Bá Trác đã biên soạn thêm nhiều tác phẩm sau:

*Cổ Học Viện thư tịch thủ sách (soạn cùng với Nguyễn Tiên Khiêm) gồm 11 quyển (1921)
*Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu (1925)
*Bàn về học thuật nước Tàu (1918)
*Hạn mạn du ký (1920. Năm 1921, Đông Kinh ấn quán - Hà Nội in lại)
*Bàn về Hán học (1920)
*Hương Giang mộng (1920)
*Ngã An Nam dân tộc Nam tiến chi lịch sử (1921)
*Mấy lời chung cáo của các nhà Nho (1921)
*Nguyễn Bá Học tiên sinh chi lược sử cập kỳ di ngôn (1921)
*Du Thanh Hòa ký (19210)
*Hán học văn học khảo (1917-1932)...

Nguyễn Bá Trác biên soạn nhiều sách, nhưng được nhiều người biết đến hơn cả là tập Hạn mạn du ký (có nghĩa là đi chơi phiếm). Đây là thiên ký sự bằng chữ Hán gồm 14 chương, sau ông mới đem dịch ra Việt văn, rồi đăng trên Nam Phong tạp chí từ số 38 đến số 43 vào năm 1920.

Nguyên nhân sáng tác, trong lời mở đầu, Nguyễn Bá Trác đã cho biết như sau:
Tôi về nước đã 5 năm nay, kể từ năm 1908 bước chân đi, đến năm 1914 tôi trở về Sài Gòn giữa ngày tháng 8, tính đốt ngón tay một dạo phiếm du chốc đã 6 năm có lẽ. Loanh quanh trong nước một năm, tạm trọ ở Xiêm La hơn 10 ngày, làm khách qua Nhật Bản một tháng, rồi lại sang Trung Hoa, bao nhiêu thương phụ to, tỉnh thành lớn, như Ba Thục miền Tây, U Uyên đấyt Bắc, Quế Việt cõi Nam, đều là chỗ mình có để ít nhiều dấu xe dấu ngựa. Nay đem đường lối phong cảnh mà mình đã trải qua nơi đất khách, chép nhặt một vài, còn chuyện chi chi (ý nói đến việc đi làm cách mạng của ông) không rổi mà nói đến.

Đề cập đến tác phẩm này, nhà nghiên cứu văn học Phạm Thế Ngũ viết:
...Câu Việt văn khác mạch lạc suông sẻ, đôi chỗ đăng đối du dương. Những tình tiết ly kỳ của cuộc phiêu lưu nơi đất lạ đã đem lại cho câu chuyện nhiều vẻ hấp dẫn. Nhất là đối với các Nho gia ta khi ấy từng ôm cái mộng Đông du; nếu không thì trí não cũng đầy kỷ niệm văn chương về danh nhân, danh thắng Trong Hoa, đọc Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trạc thật là thú vị. Cả nữ giới cũng hoan nghênh lắm. Bà Tương Phố từng kể hay gối Nam Phong ở đầu giường để đọc du ký của ông Quỳnh (Phạm Quỳnh), ông Trác mà mộng du đất Pháp, đất Tàu. Ông Dương Quảng Hàm khi làm sách Quốc văn trích diễm (1925) dành hẳn cho thiên du ký của Nguyễn Bá Trác hai bài trích, đó là Đường đi Hương Cảng và Điếu Kim lăng[1], đủ thấy độc giả đương thời đã thích thưởng thức dường nào.[2]

Và trong tập sách này có một khúc ca phương Nam do ông dịch, đã giúp ông thêm nổi danh.

Hồ trường
Cái tên Hồ Trường do người đọc trích chữ trong lời ca mà gọi chứ không phải do Nguyễn Bá Trác đặt. Và cho đến nay (2009), vẫn chưa rõ bài ca ấy tên gốc là gì, tác giả là ai.

Bài này nằm ở chương 10 tập Hạn mạn du ký. Ở chương này, tác giả cho biết vào khoảng năm 1912, khi lưu lạc đến Thượng Hải, ông đã gặp một người đồng hương cùng chí hướng, người này có giọng hát hay (giọng Quảng Đông). Một đêm nọ, hai người đi uống rượu, “rượu ngà ngà, Nguyên quân đứng dậy mà hát” (mà sau này gọi là Nam phương ca khúc). Ở bàn bên cạnh, một võ quan họ Lưu, người Trực Lệ, nghe điệu hát, sang hỏi là điệu gì, được trả lời: “Ấy là một điệu đặc biệt ở phương Nam”, họ Lưu nói “nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, Nam phương mà có điệu hát đến thế ru?”. Sau đó họ Lưu xin người hát chép ra giấy lời ca ấy để giữ xem....

Giới thiệu bản dịch bài Nam phương ca khúc, Phạm Thế Ngũ viết: Trong thiên du ký (Hạn mạn du ký), đặc biệt có một bài ca do một người bạn tác giả gặp ở Thượng Hải, cùng trong cái cảnh đào vong vì quốc sự, thường nghêu ngao hát những lúc mượn chén tiêu sầu nơi lữ điếm. Bài ca ấy độc giả bấy giờ và nhất là những người cách mạng lớp sau, ai cũng thích, thường học thuộc và ngâm nga...[2]
Sau đây là bản phiên âm Hán-Việt trích từ Nam Phong tạp chí số 41 năm 1920, trang 400 – 401 và bản dịch của Dương Bá Trạc (đã chỉnh lại lỗi chính tả so với lần in đầu) do nhà biên khảo Phạm Hoàng Quân sao chép lại.

Nam phương ca khúc
Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường
Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương
Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương
Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương
Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ hề, thí lai đối chước hữu dư thương.
Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan
Dư thương trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương
Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương
Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy
Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí
Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử.[3]

Dịch nghĩa:
Kẻ trượng phu sống mà không vạch gan, bẻ cột lo giềng mối cho đời
Rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu?
Quay đầu trông về nam, miệt mù vậy hỉ! Trời mây nối màu xanh ngắt
Lập công chẳng được, học không xong, trai trẻ có bao lâu, ngồi ngó trăm năm, thân đuổi cuộc sớm chiều.
Vỗ tay hát khùng, hỏi đời kia, đất trời mờ mịt vậy, một người tri kỷ tìm ở đâu, thử đến giúp ta rót chén rượu này
Ta quăng chén rượu đầy trộn nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng
Ta quăng chén rượu đầy vào mưa núi tây, mưa núi tây một trận sao lênh láng
Ta quăng chén rượu đầy đuổi theo gió bắc, gió bắc tung cát lăn đá bay nơi khác
Ta quăng chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng điềm nhiên say tràn
Trời đất dọc ngang đều mất hết, sao ta không say, chí ta thời ta làm
Từ xưa nam nhi đuổi theo tang bồng, cớ gì sùi sụt sầu cố hương.

Nguyễn Bá Trác dịch thơ:
Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;
Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương
Trời nam nghìn dậm thẳm, mây nước một mầu sương
Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thể bóng tà dương.
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.
Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?
Rót về đông phương, nước bể đông chẩy xiết sinh cuồng lạn;
Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan
Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;
Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta hay
Nam nhi sự ngiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.[4]

Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn.

Chú thích
1. Khi soạn Việt Nam thi văn hợp tuyển, Dương Quảng Hàm có trích thêm một bài nữa trong Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trạc, đó là Quanh đường vượt ra khơi. (Nxb Trung tâm học liệu, Sài Gòn, bản in lại lần thứ 10, 1968, tr. 200)
2. a b Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quốc học tùng thư xuất bản, tập 3, Sài Gòn, 1965, tr.326-327.
3. Giải thích từ khó hiểu bài Hồ trường:
-Nam phương (Phương nam) ở đây chỉ miền Lĩnh Nam (Trung Quốc).
-Cương thường: Do chữ "tam cương" (vua tôi, cha con, chồng vợ) và "ngũ thường" (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) ghép lại.
-Bẻ cột (chiết hạm):  Có nhiều người lầm viết là bẻ cật. Điển tích “bẻ cột” xuất phát từ sách Hán thư – truyện Chu Vân: Thời Hán Thành Đế, Hòe Lý Lệnh (một chức quan trong hàng Tam Công) là Chu Vân tâu với vua xin giết An Xương Hầu Trương Vũ, vua nổi giận sai chém Chu vân. Khi bị bắt lôi đi, Chu Vân uất ức bám tay vào cột điện, cột cung điện bị vặn gãy. Nhân lúc lộn xộn ấy, Tân Khánh Kỵ giải cứu Chu Vân. Sau, Thành Đế biết Chu Vân xin giết Trương Vũ là vì lòng trung, bèn tha tội. Và khi cho sửa cung điện, ông vua này ra lệnh phải giữ nguyên dạng phần cột bị gãy, nhằm lấy hình ảnh đó mà biểu dương lời nói ngay thẳng. Đời sau thường dùng từ “chiết hạm” để chỉ hành vi dũng cảm trong việc dùng lời lẽ để can gián vua.
-Thương (được lặp lại nhiều lần trong lời ca): Có thể đọc là “trường” hay “tràng” mà Nguyễn Bá Trác đổi thành “Hồ trường”. Thương có ba nghĩa:
1/ Là cái chén uống rượu giống như cái tước, làm bằng sừng, “thương” là chén rót đầy rượu, khi chưa rót rượu vào thì gọi là “chí”. 2/ Mời rượu người khác một cách kính trọng gọi là “thương”. Sách Lã Thị Xuân Thu – thiên Đạt Úc có câu “Quản tử thương Hoàn Công” (Quản Từ kính cẩn mời rượu Tề Hoàn Công). 3/ Tự uống rượu một mình gọi là “thương”, Phạm Thành Đại trong bài “Túc tư khẩu thỉ văn nhạn” có câu “bá tửu bất năng thương” (nâng ly khó uống một mình).
-Phần tử: (ở cuối bài, tác giả dịch là cỏ cây): Là từ được ghép bởi “Phần du” và “Tử lý” (hoặc “Tang tử”). Đây là tên các loại cây mà người đời sau cùng chữ này để chí cố hương..
4.Bài Hồ trường khi đăng ở Nam Phong không có phần dịch nghĩa & chú thích từ khó hiểu. Và có ít nhất năm bản dịch đang tồn tại, mà ở các bản đều có vài từ không giống nhau.


2009-08-12 00:46:46



Rating: 2.3/5 (52 votes cast)

[1]

  • Xin lưu ý: Là một diễn đàn tự do, quantho.net không chịu trách nhiệm về nội dung của những ý kiến đóng góp từ độc giả. Những ý kiến đóng góp có những lời lẽ không hay sẽ bị BBT xoákhoá IP vĩnh viễn. (khi bị khoá IP bạn sẽ không thể vô được quantho.net nữa.)



bài giới thiệu bài hành / bài ca bảy chữ liên hoàn biên khảo câu đối cổ thi trung hoa cổ thi việt nam Chùm Thơ chùm thơ 7 chữ 8 câu chùm thơ lục bát chùm thơ xướng họa dòng thơ đạo hát nói kịch thơ liên hoàn thất ngôn bát cú nhạc Phân Ưu song thất lục bát tác giả tác giả và tác phẩm Tùy bút tập thơ Tham luận thất ngôn bát cú (7 chữ 8 câu) thất ngôn bát cú thủ vỹ ngâm thể loại khác thi ca thi nhân thuận nghịch độc thơ 4 chữ thơ 5 chữ thơ 6 chữ thơ 7 chữ thơ 8 chữ thơ cho cha mẹ thơ chuyển thể thơ cuộc sống thơ dịch thơ hai câu thơ haiku thơ hình thơ họa thơ hiện thực thơ lục bát thơ mới thơ mới hiện đại Việt Nam thơ nối điêu thơ ngâm thơ nhạc thơ phá thể thơ quê hương thơ tân hình thức thơ tình thơ tình lục bát thơ tứ tuyệt thơ tự do thơ tranh đấu thơ trào phúng thơ truyện thơ xướng họa thơ đoản cú thơ đường thư / thơ tiểu luận tiểu sử Truyện ngắn trường ca trường thiên lục bát trường thiên song thất lục bát trường thiên thất ngôn viết về tác phẩm X.H. thơ vui cuối tuần You Tube Đường Thi Việt

 Sơn Tinh Thủy Tinh - Trần Hoan Trinh
 Đời Sợ Khổ - Nguyên Hữu
 Thi Nhân Hành Khúc / Chúng Tôi Không Muốn Chết - tâm thanh
 Tình khúc vần " Ông " - nguyên hà
 THẨM ĐỊNH KHÔ THI - tâm thanh
 Đánh Đai Lưng Gầy - Đỗ Anh Thơ
 TẦU NÔ MỘ KHÚC - tâm thanh
 Đợi Hạt Phù Sa - Quốc Việt
 Đà Thảo Khấu Diệt Độc Xà - tâm thanh
 Nam quan hành (1) (2) & (3) - Quốc Việt





phụ trách quán thơ
Huệ Thu
saimonchunhan@gmail.com

Follow Us


 Chùm Thơ Thiếu Nhi - nguyễn lãm thắng
 Tình khúc vần " Ông " - nguyên hà
 NGÀY ĐANG MỞ SÁNG [Trường ca] - trần anh thái
 Sơn Tinh Thủy Tinh - Trần Hoan Trinh
 Vui Tuổi Hạc - hà thượng nhân, nhiều tác giả..., Đông Anh
 Bài Thơ Về Mẹ / Ngày Của Mẹ / Nhớ Mẹ Xiết Bao / Thức Giấc Nửa Khuya - Võ Đình Tiên
 Mỗi Năm Thêm Tuổi - Võ Đình Tiên, Lê Kim, Githéa
 Bên Trời Lận Đận [Thi tập] - hà thượng nhân
 KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG - Viên Thức, huệ thu
 Mười Bức Tranh Trâu - Không biết tên tác giả


trang chính    100 tác phẩm mới 



Thực hiện:  
Bùi Ngọc Tô, Huệ Thu, Tuấn Nguyễn, Phương Nguyễn, Tú Phương, Tâm Thơ, Long Nguyễn, Đăng Lê, Trần Thanh, Ngô Nguyễn Trần
(Hoa Kỳ - Pháp - Đức - Áo - Úc - Hoà Lan - Việt nam)